LIÊN KẾT WEBSITE

Lượt truy cập

Đang truy cậpĐang truy cập : 34


Hôm nayHôm nay : 114

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 2821

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 84992

LK WEBSITE GIÁO DỤC

Bài viết gửi Tạp chí Thế giới trong ta

Chủ nhật - 19/03/2017 12:19 | Số lần đọc: 141
Bài viết gửi Tạp chí Thế giới trong ta

Bài viết gửi Tạp chí Thế giới trong ta

Ca dao, dân ca và tục ngữ  ở tiểu học
 
                                                              Hoàng Thị Hạnh
                           Trường Tiểu học Đức Thanh, xã Đức Thanh, Đức Thọ, Hà Tĩnh
 
          Trong chương trình dạy học môn Tiếng Việt ở Tiểu học, nội dung dạy học ca dao, dân ca và tục ngữ chiếm một thời lượng không nhỏ. Đây là hai nội dung của văn học dân gian góp phần cung cấp kiến thức về thế giới xung quanh và đời sống nội tâm của con người cho các em thiếu nhi; giáo dục các em hướng tới cái Chân – Thiện – Mĩ.
        Vậy ta hiểu thế nào về nội dung dạy học ca dao, dân ca?
        Từ thửa còn nằm trong nôi, tuổi thơ ta đã được đắm chìm trong ca dao thông qua tiếng ru à ơi của bà, của mẹ. Ngay khi ở Mầm non, các em đã được nghe và đọc theo những câu ca dao như “ Công cha như núi Thái Sơn / Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra”...Sang bậc tiểu học, các em được tập đọc, được hiểu và phân tích ý nghĩa của những câu, những bài ca dao như: Đường vô xứ Huế quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ..., Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa...., Cày đồng đang buổi ban trưa / Mồ hôi thánh thót như mưa ruộng cày....
        Ca dao, dân ca là thể loại của dòng văn học dân gian. Đây là những sáng tác của quần chúng nhân dân được tồn tại bằng phương thức truyền miệng. Có thể nói đây là thể loại được nhớ nhiều nhất, gây ấn tượng mạnh mẽ nhất ở lứa tuổi tiểu học. Điều này bởi vì nó phù hợp không chỉ về tấm sinh lý của lứa tuổi các em mà còn về mục đích khi sáng tác. Ở trường tiểu học, nội dung của những bài ca dao là nói về tình cảm gia đình, về tình yêu quê hương, đất nước, con người...Những câu ca dao về tình cảm gia đình giống như tục ngữ hoặc thành ngữ ẩn chứa trong đó lời khuyên nhủ, răn dạy được đúc kết từ ngàn đời của những bậc làm cha, làm mẹ, của bao thế hệ đi trước. Biện pháp nghệ thuật so sánh, những hình ảnh ẩn dụ được đưa vào làm cho các em vừa dễ hiểu, vừa dễ nhớ . Có những sự so sánh đơn giản như: Anh em như thể tay chân, hay : Công cha như núi Thái Sơn...  
         Tình yêu quê hương, đất nước , con người được đưa vào giảng dạy nhiều nhất. Những bài ca dao đó giống như những bức tranh đa màu sắc, nhiều hình vẽ về một miền quê cụ thể để các em yêu hơn non sông gấm vóc Việt Nam. Tiếp xúc với những bài ca dao này, các em như được nhìn thấy tận mắt khung cảnh của núi cao ( Nhất cao là núi Tản Viên), của sông dài ( Sông Thương nước chảy đôi dòng); của những đặc sắc của một vùng quê ( Đường vô Xứ Nghệ quanh quanh/ Non xanh nước biếc như tranh họa đồ...). Các em như được di du lịch bằng văn chương khi được học bài Đồng Đăng có phố Kỳ Lừa / Có nàng Tô Thị, có chùa Tam Thanh... Đằng sau những cảnh ấy là tình : tình yêu và lòng tự hào về quê hương, về niềm biết ơn những người đi trước đã xây dựng và bảo vệ quê hương ngày càng giàu đẹp.
Nhà Bè nước chảy phân hai
Ai về Gia Định, Đồng nai thì về....
          Những bài ca dao cũng giúp các em biết về công việc của người lao động, hiểu và cảm thông với nỗi khó nhọc cũng như đời sống tinh thần của họ.
Trời mưa trời gió vác đó đi đơm....
Hay
Chàng đi cho thiếp đi cùng
Đói no thiếp chịu, lạnh lùng thiếp cam...
..........................................
         Về nghệ thuật, phần lớn ca dao thường sử dụng thể thơ dân tộc như  lục bát, hay song thất lục bát. Có khi ngắn thì là một cặp, cũng có khi cả bài nhưng ngắn gọn, dễ nhớ, dễ thuộc. Đây là một yếu tố giáo viên thường lưu ý khi dạy ca dao cho các em.  Một dấu hiệu nữa mà giáo viên thường chỉ cho học sinh dễ nhận biết về ca dao là dùng những đại từ phiếm chỉ như : ai, ta, mình, chàng....( Thuyền về có nhớ bến chăng/ Bến thì một dạ khăng khăng đợi thuyền); những hình ảnh quen thuộc như thuyền và bến, trầu và cau, hay con cò, con kiến, trúc, liễu...
        Về ngôn ngữ trong ca dao thì được chọn lọc và gọt dũa qua bao thế hệ. Đó là ngôn ngữ mộc mạc, giản dị nhưng ẩn chứa trong đó sự tinh tế, thâm sâu. Vì vậy, để dạy cho học sinh  ý nghĩa của ca dao giáo viên phải bám sát từ ngữ, hình ảnh; phải suy nghĩ, tìm tòi, chiêm nghiệm thì mới hiểu hết cái hay, cái đẹp trong đó mà giảng giải cho các em.
        Ca dao như tấm gương phản chiếu cuộc đời. Dạy và học ca dao cũng là “ dạy và học được những cách nói năng tài tình, chính xác” ( Hoài Thanh ).
          Về nội dung dạy học tục ngữ:
          Tục ngữ được hiểu là những câu nói có hình thức ngắn gọn nhưng nội dung lại hàm súc, đa nghĩa, có cách diễn đạt giàu hình ảnh nhằm đúc kết những kinh nghiệm lao động, kinh nghiệm sống, thể hiện lý tưởng hoặc quan niệm của nhân dân về cuộc đời.
       Về cách nhận diện, tục ngữ có thể dài, ngắn khác nhau về số câu nhưng luôn diễn đạt trọn vẹn một nội dung hoặc ý nghĩa nào đó. Nội dung của tục ngữ là các vấn đề về xã hội, về lịch sử dân tộc, về đạo đức, các mối quan hệ xã hội, các mối quan hệ gia đình. Cũng có khi là những kinh nghiệm lao động sản xuất, kinh nghiệm quan sát thế giới xung quanh...( Có công mài sắt có ngày nên kim, Chớ thấy sóng cả mà ngã tay chèo...).
        Mỗi câu tục ngữ được ví như một tác phẩm nghệ thuật. Điều này bởi vì tục ngữ luôn diễn đạt ý nghĩa bằng những hình ảnh giản dị, gần gũi với đời sống con người. Cách sắp xếp câu chữ có vần có nhịp, dễ nhớ, dễ hiểu. Mỗi câu tục ngữ luôn là một ẩn dụ. Khi dạy học sinh về tục ngữ, bao giờ giáo viên cũng phải đi từ nghĩa đen( ý nghĩa cụ thể ), giải thích cho các em hiểu nghĩa đen rồi mới suy ra nghĩa bóng ( nghĩa trừu tượng, mở rộng), phải từ một hiện tượng cụ thể để hiểu những cái chung, cái phổ biến.
        Việc dạy tục ngữ ở trường tiểu học không chỉ giúp các em nâng cao hiểu biết, nhận thức về xã hội ...mà còn giúp các em làm quen với từ, học tập cách diễn đạt sao cho ngắn gọn mà hiệu quả...Đó là những hiểu biết về thời kỳ lịch sử xa xưa ( Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi... ), là những phong tục tập quán ( Đất có lề, quê có thói...), hay những kinh nghiệm sản xuất, kinh nghiệm thời tiết..( Khoai ruộng lạ, mạ ruộng quen, Dày sao thì nắng, vắng sao thì mưa...). Cũng qua tục ngữ, các em được giáo dục những quan niệm đạo đức, học tập những đức tính tốt đẹp của nhân dân ( Gần mực thì đen, gần đèn thì rạng, Đói cho sạch, rách cho thơm;  Cái nết đánh chết cái đẹp; Có công mài sắt có ngày nên kim...).
        Về nghệ thuật, tục ngữ luôn bao hàm cả nghĩa hẹpnghĩa rộng. Khi dạy tục ngữ, giáo viên phải có vốn sống, vốn am hiểu sâu sắc thì mới giảng giải được cho các em hiểu từ nghĩa hẹp sang nghĩa rộng, tức là hiểu cái cốt lõi của câu tục ngữ. Trong cách diễn đạt, tục ngữ luôn sử dụng những hình ảnh gần gũi với cuộc sống với những biện pháp nghệ thuật như ẩn dụ, so sánh, nhân hóa...Giáo viên cần xem đây là những dấu hiệu cơ bản để giúp các em nhận biết tục ngữ.
Ăn như tằm ăn dỗi
 
Mềm nắn rắn buông
 
Ruộng sâu trâu nái không bằng con gái đầu lòng
                                                  ...........................
         Việc giảng dạy, phân tích tục ngữ vốn dĩ đã là rất khó. Đối với đối tượng là học sinh tiểu học thì lại càng khó hơn. Vì vậy khi dạy thể loại văn học này, chúng ta cần chú ý đến quan hệ nội dung và hình thức, chú ý đến cách diễn đạt, dùng từ, hình ảnh để làm sao cái hay, cái đẹp của những câu tục ngữ đến với các em một cách nhẹ nhàng, dễ hiểu nhất.                                                                                                                                         
 

 
 
 
 
 
 
 
  
 
 
 
 
    

Tác giả bài viết: Hoàng Thị Hạnh

Nguồn tin: Bài viết gửi Tạp chí Thế giwosi trong ta

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn